Thư của lính

Thư của lính

 

Từ quân trường anh gửi về em

Chiều lãng đãng hương đồng gió nội

Bông điên điển vàng màu nước nổi

Hoa lục bình nhuộm tím triền sông.

             

Bình dị thôi, mỗi sáng ra đồng

Khi mùa vụ râm ran tiếng máy

Người lính trẻ cũng biết cày, biết cấy

Xắn cao quần bì bõm ruộng sâu

 

Áo phong sương, nắng dãi mưa dầu

Cũng lắm lúc đầu trần chân đất

Khoảnh khắc ấy anh thấy đời đẹp thật

Bài học vỡ lòng-muối mặn gừng cay.

 

Dấn thân vào đời lính mỗi ngày

Củ khoai lang cũng thơm lừng cổ tích

Trên giồng cao lấm lem bùn đất

Hoa mướp lung linh ửng sắc hương trời

Anh tưới bằng những giọt mồ hôi

Nên quả ngọt ắp đầy vị mặn.

 

Cùng đồng đội trên thao trường tập bắn   

Vai áo sờn khoác nặng ba lô

Nhát xẻng sâu công sự anh đào

Từng lớp đất chở che người lính.

 

Súng và đạn như “người yêu” khó tính

Gắn bó bên mình son sắt em ơi!

Vành trăng nghiêng đầu súng xa xôi

Con thuyền nhỏ khi mờ, khi nhạt.

 

Lính thời bình cũng mưa dầm, nắng rát

Gian khổ thử lòng những buổi hành quân

Bưng biền sâu lầy lội, muỗi mòng

Anh chong mắt trong đêm tập trận.

 

Nếu yêu lính, xin em đừng giận

Đừng dỗi hờn oán trách vu vơ

Anh hiểu em khắc khoải đợi chờ

Thầm khao khát nụ hôn nồng ấm.

                                   


Giá như hôm ấy đừng mưa

Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4

Giaù nhö hoâm y ñng mưa


 

Lôõ trao nhau traùi tim roài

Thoâi em haõy nhaän hoàn toâi mang veà

UÛ cho men daäy caâu theà

Moät thôøi troùt daïi voã veà loøng nhau.

 

Giaù ñöøng coù beán soâng saâu

Em khoâng ra ñöùng beân caàu naêm xöa

Phaûi chi hoâm aáy ñöøng möa

Aùo em ñöøng öôùt khoâng ñöa nhau veà.

 

Loanh quanh cuõng bôûi lôøi theà

Phaûi chi em cuõng vuïng veà nhö toâi

Trôøi möa aùo öôùt ngöôøi ôi!

Söôûi chi ñeán aáùm ñeå roài quen hôi.


Ngôi mộ không hài cốt

Tôi đưa mẹ từ đồng bằng sông Củu Long về miền Trung trước là tìm hài cốt anh mình, sau cũng muốn một lần cho bà biết đi trên trời nó bao la như thế nào. Bà theo tôi vào Nam nhận Vĩnh Long làm quê hương thứ hai. Cả đời bà cơ cực, lam lũ. Mọi phương tiện di chuyển bà đều đã trải qua, nào ghe, xuồng, xe hơi, tàu hỏa, chỉ có phi cơ chưa chưa đạt chân đến.
Trong phòng làm thủ tục kiểm tra hành lý, tôi đặt giỏ xách của bà trên ru-băng quay, trong thoáng chốc những túi hành lý mất hút. Mẹ tôi lúc đầu trố mắt ngạc nhiên, sau lo lắng:
- Cái giỏ xách của tao đâu rồi?
Tôi trấn an:
- Người ta kiểm tra và đưa vào khoang chứa hành lý không sao đâu.
Bà bực bội:
- Không sao với trăng gì hết. Mất của tao là không được đâu nghen.
Chữa quê cho mẹ trước đông người, tôi quay sang người thanh niên đứng cạnh:
- Mấy bà lẩm cẩm vậy đó. Trong giỏ có gì đáng giá ngoài chai thuốc rượu gia truyền trị nhức mỏi và ít lít mật ong làm quà cho bà con lối xóm bà giữ khư khư bên người như một báu vật.
Khi máy bay cất cánh đạt độ cao bốn ngàn mét, tôi vỗ vỗ vào trán, nói:
- Sao lỗ tai con lùng bùng quá hay tại không quen đi máy bay?
Mẹ tôi mắng:
- Tại chúng bay lười lao động, chứ tao ngày xưa gánh đôi củi nặng oằn vai, vượt qua bao đèo cao dốc đứng có nhằm nhò gì. Bữa ni ngồi trên máy bay tao cảm thấy như đang ngồi trên ghế dựa ở nhà có gì khác mà than ù tai nhức óc.
Nói dứt câu bà cười hồn nhiên trơ ra hai bờ lợi đỏ hếu. Không lâu mấy cô tiếp viên mang thức ăn đặt trên khay rồi quay gót. Bà gọi giật lại:
- Cô gì đẹp đẹp đó ơi! Cho tôi gửi tiền.
Tôi ấn bà ngồi xuống, cài lại dây an toàn, nói:
- Mẹ khỏi lo. Mọi chi phí đã xdtfdgd
- Hai mươi lăm ngàn.
Bà nhún vai:
- Đắt quá! Thua ăn bánh mỳ bán ở đầu hẻm. Tao không ăn, mang về cho cháu.
Ngoài trời những đám mây trôi bàng bạc. Từ trên cao nhìn xuống trông giống như đang lướt qua vùng băng giá. Bà không còn lạ lẫm nữa, ngồi lặng thinh nhìn mông lung những người hành khách trong khoang tàu.
oOo

Năm 1964 tôi có người anh tên Văn Công Tấn, tham gia cách mạng vào tuổi mười bốn. Khi chiến tranh xảy ra, gia đình di tản đến thành phố Đà Nẵng tránh bom đạn, anh ở lại quê nhà tham gia đội văn nghệ, sau vào du kích xã làm nhân viên y tá, đến năm 1966 anh là một trong những cán bộ đầu tiên của đơn vị K 650 tức Công ty lương thực Quảng Nam - Đà Nẵng bấy giờ, có nhiệm vụ thu mua lương thực, thực phẩm cung cấp cho chiến trường. Vào một đêm anh đang chuyển gạo xuống hầm chôn giấu thì một trận pháo bầy của quân chư hầu Nam Triều Tiên dập đến không làm anh nao núng, anh vẫn ung dung làm nốt công việc. Đến đợt pháo thứ tư, mảnh đạn phạt ngang cổ, anh ngã xuống hy sinh. Đồng đội mang về chôn trên đồi cát có tên Cồn Phụng kề bên đồn giặc ngay trong đêm 19/6/1969.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, gia đình tôi chuyển về quê nhà sinh sống. Xóm làng bấy giờ xơ xác lắm, phải lao động cật lực mới có miếng ăn. Nhưng trong lúc mọi người hăm hở bắt tay vào khai hoang dỡ đất cày cấy thì cha tôi vẫn canh cánh trong lòng như một người mộng du. Có lúc ông ngồi thở dài: “Không biết thằng Tấn còn hay đã chết ?”. Dù giấy báo tử và bằng Tổ quốc ghi công xã đã gởi đến tận nhà ông cũng không tin. Chiến tranh mà! Xóm tôi có người đặt di ảnh người thân trên bàn thờ đôi ba năm nhưng trớ trêu thay họ lại trở về nguyên vẹn. Cha tôi cũng hy vọng như thế nên ông phó thác công việc nhà cho mẹ và anh em tôi. Suốt mấy tháng liền ông đi tìm đồng đội cũ của anh để biết tin tức con. Cho đến một hôm ông xuống huyện, tình cờ gặp thủ trưởng cũ của anh - tên ổng là Phan Ngọc Tiềm.
Cha tôi năn nỉ: “Ngày xưa nó hy sinh ông biết, bây giờ ông ráng giúp tôi chỉ mộ để đem hài cốt cháu về quê nhà mai táng”. Động lòng trước bậc sinh thành của người lính cũ, ông đèo cha tôi bằng chiếc Honda 67, băng băng trên con đường ngoằn ngoèo đầy ổ gà và chi chít hố bom đạn suốt bốn cây số về thôn Tư, Xã Duy Trung, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Sau gần mười năm địa hình đã có nhiều thay đổi. Người lính già chạnh lòng khi về lại chiến trường xưa, nơi lấp vội đồng đội trong một đêm ngập tiếng pháo của giặc. Miếng tôn mỏng viết nguyệch ngoạc tên anh tôi ghim vào cọc tre làm bia mộ không còn. Hàng rào cây lưỡi mèo vương những chiếc gai dài nhọn hoắt mọc đầy. Biết tìm đâu ra nụm cát xưa ? Ông cũng như cha tôi chết lặng giữa đồi cát khô cằn trong mùa nắng hạ. Bỗng mắt ông vụt sáng. Ông reo lên :“Kìa ! Mộ nó cách tấm bia này về phía đông - nam bốn thước”. Ông cùng cha tôi tiến về phía tấm bia cũ kỹ có từ thời Tự Đức, nói: “Thằng Tấn chôn kế bên hai cô gái. Ngày xưa hắn trẻ nhất trong đơn vị. Chúng tôi thường đùa - Mi chưa vợ mai này nếu nằm xuống thì bọn tau tìm chỗ nào có con gái chưa chồng chôn để mi có bầu bạn tâm sự và biết hơi hướm đàn bà con gái nó ra răng”. Đâu ngờ câu nói chơi trở thành sự thật. Đêm anh hy sinh còn có thêm một đồng đội nữ hơn anh hai tuổi.
Nắng hè miền Trung như nung lửa. Cha tôi và người lính già vào nhà dân mượn cuốc, đắp lên thành ngôi mộ hẳn hoi rồi mua nhang đèn, bánh trái về cúng. Hai ông già ngồi trầm ngâm bên ngôi mộ mới đắp suốt buổi trưa, mỗi người theo ký ức riêng nhớ về người lính, người con đã dâng trọn tuổi thanh xuân cho Tổ quốc.
oOo
Ngày tìm được mộ anh cả nhà tôi vui lắm. Xóm giềng ai cũng cho gia đình tôi may mắn vì ít ra còn có nắm xương để mồ yên mả đẹp. Nhiều thanh niên trong xã sau cuộc chiến tranh, chẳng biết hy sinh ở chân trời góc biển nào, hoặc có người biết nơi con em nằm xuống mồ chôn tập thể là một hố bom sâu hoắm.
Trước ngày cải táng anh về quê nhà, chúng tôi chuẩn bị rất chu đáo. Ngoài lễ vật dành cho đám táng, cha tôi mướn thợ chọn loại gỗ quí, đóng một chiếc quách rất đẹp. Ông nói: “Lúc sống không nhà, không vợ con thì chết phải được đền bù”. Từ mờ sáng, ông đánh thức cả nhà dậy. Phải có mặt đông đủ nơi đồi cát trước khi mặt trời mọc. Trên khuôn mặt ai nấy đều lộ vẻ vui mừng lẫn căng thẳng. Từng nhát cuốc ghim vào lòng đất cũng phải nhẹ nhàng, thận trọng. Nhưng đào xuống sâu, càng lúc càng lan xa vào ụ cát con con vẫn không có gì bên trong chỉ thấy vài vệt cát đen. Bỗng từ xa có những tiếng la ơi ới. Một cụ già vừa chạy vừa chửi bới om sòm: “Trời ơi! Là trời! Ai thất nhơn, ác đức phá mộ cháu tôi vậy nè!”. Biết mình làm một việc nhầm lẫn tày trời, bới tung nấm mồ của cháu bé mới tròn một tháng tuổi chôn cách đây mười năm. Cha tôi đến lạy ông tha lỗi. Ông già hiểu ra câu chuyện không nỡ oán trách. Ông sai đứa cháu về nhà lấy một thẻ nhang thay chúng tôi đốt lên, đứng lâm râm khấn: “Nam mô a di đà Phật. Tôi, Nguyễn Văn Hớn vái lạy Thần linh, Thổ địa hãy linh thiêng chỉ đường cho liệt sĩ Văn Công Tấn về sum họp với gia đình”. Có lẽ lời cầu khấn của ông không thấu tai Thượng đế nên chúng tôi đào từ lúc mặt trời mọc đến bóng tôi nhập nhoà vẫn không gặp hài cốt, đành bỏ lại chiếc quách xinh đẹp ra về trong nỗi buồn tuyệt vọng.
Từ hôm ấy, suốt mấy tuần không khí trong gia đinh tôi ảm đạm, không ai muốn lên tiếng với ai một lời. Cứ vậy từ tháng nầy, qua năm khác cha tôi âm thầm tìm con đến khi chết vẫn còn ú ớ trong miệng: “Tấn ơi! Con ơi!...”. Nay, hễ nghe mục nhắn tin truy tìm đồng đội trên vô tuyến truyền hình thì mẹ tôi ngồi lặng lẽ hàng giờ trước màn ảnh nhỏ. Có lúc bà thở dài nói với con cháu: “Cha mẹ bay, cô chú bay cái gì cũng có. Chỉ tội nghiệp bác Hai bay chết không có cái hòm, không còn một nắm xương để hương khói”.
Gia đình tôi nhiều lần về miền Trung tìm hài cốt anh, mỗi lần chúng tôi đi thì bà cũng nằng nặc đòi theo. Mười năm về trước còn cho bà đi cùng nhưng bây giờ sức khoẻ bà đã kém, không thể vượt qua hàng ngàn cây số. Hễ nghe người ta mách bảo bất cứ dấu hiệu nào có liên can đến anh thì những ngày ấy bà không sao ngủ được, bà hối thúc bọn tôi phải đi tìm, nhưng chúng tôi có rảnh rỗi đâu, phải sắp xếp ngày nghỉ trong tuần hoặc tận dụng những ngày lễ trong năm. Có lúc bà dỗi hờn âm thầm xách gói ra đi biền biệt suốt mấy tuần lễ, đến khi về nhìn nét mặt phờ phạt, buồn rầu lộ vẻ chán chường anh em tôi không sao chịu nổi. Chúng tôi bèn bàn nhau gạt bà bằng cách đắp một ngôi mộ giả nơi anh hy sinh. Thế là hằng năm đến Ngày thương binh liệt sĩ bà lại khăn gói lên đường về đốt nhang cho anh bên ngôi mộ không hài cốt trên đồi cát đó. Nhưng có một điều lạ là bà dành thời gian đến bất cứ nghĩa trang liệt sĩ nào ở nhiều nơi hơn đến ngôi mộ chúng tôi vun đắp. Bà không ngỏ lời cải táng anh về nghĩa trang liệt sĩ xã nhà. Những năm đầu thấy bà sốt sắng viếng mộ chúng tôi thấy vui mà day dứt lắm. Biết lừa dối mẹ là có tội, nhưng trong tình huống ấy chúng tôi đành chấp nhận. Nhưng không thể dối bà mãi, năm kia tôi tranh thủ những ngày nghỉ phép về quê tìm kiếm hài cốt lần nữa. Lúc đặt chân về tới quê nhà rất hồi hộp. Biết còn gặp lại đồng đội cũ của anh không? Thời gian bỏ trôi quá lâu. Ba mươi hai năm rồi! Lúc anh hy sinh mới tròn mười chín tuổi, chắc hài cốt cũng đã mục nát.

Tôi tìm ông thủ trưởng cũ của anh như mò kim đáy biển. Vào thôn Tư, xã Duy Trung không còn ai nhớ đến tên ông. Một bà lão nhớ mang máng hiện giờ ông nghỉ hưu ở thị trấn Duy An. Đến Duy An hỏi không ai biết. Nhờ Hội cựu chiến binh và công an thị trấn dò trong hồ sơ cũng chẳng thấy người nào mang tên Phan Ngọc Tiềm. Đang lúc cùng đường bối rối, anh phó phòng nông nghiệp huyện Duy Xuyên dẫn tôi đến vài người quen ở ngành lương thực đã về hưu nhưng đa số họ không biết. Người ảnh đưa tôi đến gặp cuối cùng cách thị trấn vài chục cây số đó là ông Nguyễn Tấn Hiệp đồng đội cũ của anh tôi. Qua vài tuần trà, ông Hiệp cho biết ông Tiềm hiện đang nghỉ hưu tận xã Duy Phước. Thế là tôi ngược đường về nơi ấy. Đến nơi, thấy nhà khoá cửa. Bà con lối xóm cho biết ông đang cuốc đất ngoài ruộng. Không ngờ con người gan góc, vào sinh ra tử, cầm hàng trăm quân một thời bây giờ là một lão nông, gầy nhom đen nhẻm, suốt ngày cặm cụi với bao công việc đồng áng. Sau khi nghe tôi trình bày nguyện vọng tìm mộ, ông đánh một tiếng thở dài nghe não ruột: “Thằng Văn Công Tấn thì tôi biết còn hắn hy sinh chôn đâu tôi cũng không nhớ rõ”. Tia hy vọng trong tôi chợt tắt ngấm. Niềm tin mong manh còn sót lại dồn hết vào ông mà câu trả lời giống như một gáo nước lạnh tạt vào ngọn lửa đang cháy leo lét. Thấy tôi lủi thủi dẫn xe ra về, ông nói với theo: “Chú muốn biết ai chôn thằng Tấn hãy đến nhà ông Trương Thanh Xuân ở số 580 Núi Thành, Thành phố Đà Nẵng, ông ấy mới là thủ trưởng trực tiếp chỉ huy hắn”.
Tôi tiếp tục lên đường vượt thêm hơn ba mươi cây số để gặp ông Thanh Xuân. Ông ngồi ôn lại rất nhiều kỷ niệm của đồng đội. Những chuyện xảy ra gần bốn mươi năm nhưng ông vẫn nhớ rất rõ. Tình đồng đội của những người lính trong thời chiến thật sâu đậm, không phân biệt đẳng cấp. Qua ký ức của ông, tôi cảm thấy như anh mình đang làm một việc gì đâu đó rất gần, rất dung dị. Khi nghe tôi đặt vấn đề tìm hài cốt thì giọng ông chùng xuống: “Đêm thằng Tấn hy sinh, tôi đang ở trên núi, dường như mộ nó gần cô Đặng Thị Thơ. Muốn biết ai chôn, chú đến ông Huỳnh Thành ở chân núi Ngũ Hành Sơn sẽ rõ, vì đồng chí ấy làm giao liên thường chôn chiến sĩ hy sinh”. Ông lấy tờ giấy vẽ đường với chi chít ngõ ngách. Lần theo tấm giấy ấy tôi tìm đến nhà anh Thành thì đã xế chiều.
Anh Huỳnh Thành nay đã hưu non ở nhà nấu rượu, phụ vợ nuôi con ăn học. Anh nói: “Đã hơn ba mươi năm, mà còn thấy các anh lặn lội đi tìm hài cốt liệt sĩ thật là xấu hổ với...”.
Tôi hỏi, có phải mộ anh tôi chôn gần cô Thơ nào đó không? Thoáng chút trầm tư, anh nói: “Thằng Văn Công Tấn không thể chôn gần bà Thơ, vì nó hy sinh bên kia bãi dâu còn bà Thơ chôn ở bên này Cồn Phụng”. Nói xong, anh bảo tôi lên xe quay lại nhà ông Thanh Xuân để xác minh cho rõ. Tôi nảy ra ý kiến, hãy đưa tôi đến chỗ anh tôi hy sinh, bằng trực giác và cách suy luận riêng tôi sẽ xác định được vị trí chôn ảnh. Tán thành ý kiến tôi. Anh nhìn đồng hồ gần bốn giờ chiều, giục tôi lên xe Honda, dồn hết tốc độ vào tay lái đến Cồn Phụng thì trời vừa nhá nhem.
Gần ba mươi hai năm, xóm làng có nhiều thay đổi, mảnh vườn nơi chôn anh tôi nay đã có chủ khác. Chúng tôi hỏi những người lớn tuổi về chiếc quách bỏ lại cách đây hai mươi bốn năm (1976) nhưng không ai biết. Một cậu thanh niên thấy chúng tôi dáo dác như gà mẹ tìm con, anh ta lại gần cho biết lúc nhỏ anh thường ra cồn nầy chơi trò bày binh bố trận. Có một chiếc quách bỏ lâu lắm, anh thường chui vào trốn bạn, thời gian sau cỏ mọc um tùm. Người thanh niên dẫn chúng tôi lại đó. Tôi vạch lùm cây rậm nhìn thấy chỉ còn là đống gỗ mục dưới một tổ mối to đùng. Chiếc quách đóng cho anh bỏ phế suốt hai mươi bốn năm. Anh tôi tội tình chi mà không được hưởng cái đặc ân cuối cùng của con người khi từ giã cõi đời ? (lúc sống cái nhà, thành ma cái hòm) Tôi chợt nhớ hình ảnh cha tôi thời còn sống, ngồi bên chiếc quách nâng niu “mái ấm của con” rồi nói với anh Thành, nơi đây cha con tôi đã từng đào nát đồi cát nầy rồi.
Mặt trời khuất dần sau dãy núi. Bóng tối nhập nhòa. Vài người lớn tuổi như đồng cảm trước cuộc tìm kiếm bền bỉ đầy nghiệt ngã của tôi, họ gợi ý nên tìm một nhà ngoại cảm may ra...
Chúng tôi ra về trong nỗi buồn vô vọng và ngày hôm sau tôi lên tàu trở lại miền Tây để kịp lo thử tục nhập Trại sáng tác văn học ở Hà Nội.
oOo
Bấy giờ sức khoẻ mẹ tôi mỗi ngày một yếu, tinh thần suy sụp, bà như kẻ mất hồn. Anh em tôi bàn nhau dối bà lẫn nữa là đưa “hài cốt” anh về nghĩa trang liệt sĩ xã nhà. Thế là chúng tôi lại dành dụm những đồng lương chật vật để đưa mẹ về miền Trung và nhờ bà con họ hàng ngoài ấy chuẩn bị cho một cuộc lễ cải táng.
Chúng tôi đốt cháy một trái dừa khô và ít cành cây mục cho vào quách giả làm cốt, phải khởi hành thật sớm để mọi người không biết. Cũng may, ngày dời mộ mẹ tôi không đòi đi theo. Khi quan tài chuyển về nhà thì chính quyền xã đến thành lập Ban lễ tang thật trang trọng. Mẹ tôi cũng như đồng đội cũ của anh đều rơi nước mắt khi nghe Bài điếu văn của ông chủ tịch xã đọc. Và bà muốn ngất xỉu khi nghe tôi thay mặt gia đình đọc Bài tưởng niện viết về anh trong buổi lễ truy điệu:

Anh kính yêu !
Thế là anh đã đoàn tụ với gia đình sau ba mươi sáu năm ly tán. Những chuỗi ngày dài không một nấm mồ nằm cô đơn nơi đồi cát hoang lạnh, nay mới được trở về trong vòng tay yêu thương đùm bọc của mọi người. Dù một cuộc đoàn viên muộn màng, nhưng cũng ấm áp lòng người sau hơn ba mươi hai năm giã từ vũ khí làm một liệt sĩ vô danh phải không anh?
Trong những tháng năm mịt mù lửa đạn, mỗi lần nghe có cuộc càn quét nơi đơn vị anh đóng quân thì cả nhà tim như ngừng đập. Rồi chuyện gì đến cũng sẽ đến, vào một buổi chiều được tin anh đã hy sinh, không khí trong gia đình bỗng buồn hiu, nặng trĩu. Anh đã ra đi nhưng hình ảnh anh luôn chập chờn trong ký ức bọn em là mình đã vĩnh viễn mất một người anh yêu quí. Tuy cha mẹ không cấm nhưng chúng em vẫn ngầm hiểu không ai được khóc. Hãy nuốt những giọt nước mắt chảy ngược về tim. Lấy buồn làm vui để che đậy mọi người.
Ngày đất nước thống nhất, nhìn người ta có con em đi cách mạng trở về trong khi gia đình lại thiếu vắng. Dẫu biết rằng anh đã nằm xuống cho quê hương, nhưng cha mẹ cũng không tin hoàn toàn đó là sự thật, vẫn nuôi hy vọng biết đâu anh còn sống. Cha trước khi nhắm mắt không gặp hài cốt anh chắc buồn lắm. Mẹ theo năm tháng cũng già đi nhiều, niềm khắc khoải duy nhất trước khi xuôi tay nhắm mắt là đem anh về nơi chôn nhau cắt rốn.
Nỗi lòng của mẹ khi thấy “quan tài” anh đưa về nhà không sao kể xiết. Mẹ như muốn ôm anh vào lòng giữ mãi cho hết quãng đời còn lại, để được bên anh bù đắp nỗi mất mát tình cảm thiêng liêng mẫu tử. Mẹ như muốn ngồi gần anh ngân nga câu ca:
“ Ngó lên Hòn Kẽm, Đá Dừng.
Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi !”.
Để thay anh tạ tội với trời, với đất mà rằng:
“ Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

Vâng, bởi anh hiếu chưa trả mà nợ đã sớm đền cho non sông Tổ quốc. Bây giờ vì anh mà gia đình tiếp tục nợ với xóm giềng, họ tộc. Nợ nhau từng tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng kèn nao lòng ai oán thâu đêm. Nợ tiếng phèng la lay động lòng người sống nghĩ về người chết. Nợ với đôi vai của người đạo tì sẽ ướm những bước chân nhẹ nhàng khoan thai cho quan tài anh êm ái. Nợ với cát bụi đào xới lên đưa anh trở về với cát bụi.
Anh ơi !
Mấy ngày qua đứng trước vong linh anh, nhìn di ảnh trên bàn thờ sao em cảm thấy nao lòng quá! Em đâu ngờ bức ảnh nầy là kỷ vật duy nhất, anh trao em vào ngày đầu Xuân “hai bên” tạm ngưng tiếng súng. Chúng mình gặp nhau ở khoảnh khắc hiếm hoi của lịch sử trong vùng giải phóng rồi xa nhau vĩnh viễn. Và ba mươi bốn năm sau, em đem chính bức chân dung nầy đặt trên bàn thờ nghi ngút hương khói để lạy anh.
Anh kính yêu !
Gần bốn mươi năm, ngần ấy thời gian đủ có thể đẩy lùi mọi thứ vào dĩ vãng và cuộc sống hòa bình đã xóa hẳn bộ mặt gớm ghiếc của chiến tranh. Giờ đây tiếng gầm rít của bom đạn ngày nào đã ẩn sâu vào câm lặng. Quê hương mình từng bước đổi thay. Nghĩa trang liệt sĩ nơi anh nằm tuy chưa khang trang, nhưng em tin chắc rằng ngày mai sẽ rợp bóng mát che anh cùng đồng đội yên giấc ngàn thu.
Em của anh
Sau khi “cải táng” anh vào nghĩa trang liệt sĩ độ một tháng, mẹ tôi lâm bệnh nặng tưởng sẽ chết . Trong cơn thập tử nhất sinh, tôi lục rương tìm bộ quần áo đẹp nhất phòng khi bà xuôi tay nhắm mắt thì gặp một mảnh giấy còn thơm mùi mực qua nét chữ run run của bà:
“Tấn ơi ! Con linh thiêng chỉ chỗ cho mẹ đem con về. Nếu con còn nằm vất vưởng đâu đây thì đau lòng mẹ lắm. Mẹ biết các em con thương mẹ bày trò đắp mộ giả. Mẹ phải dối lòng tin như thật để làm vui lòng con cháu. Mẹ không giận chúng mà giận mình không đủ sức khỏe và không còn nhiều thời gian trên cõi đời này tìm kiếm con.”
Cầu mong ngày mai trở về đồng bằng tôi không lấy nỗi đau của gia đình ra lừa dối mọi người trong lần về tìm kiếm này.

Trại sáng tác Văn Học Hà Nội tháng 8/2001


Dấu chân quen

Có những lần anh cầm vợt vào sân
Mành lưới giăng như vô tình ngăn cách
Sân cầu rộng mở ra như trang sách
Em tài hoa vẽ những đường chuyền. 

Từng trái cầu vượt lưới chao nghiêng
Như cánh hoa nhẹ nhàng lướt gió
Em tinh tế cố tình bỏ nhỏ
Thầm khuyên anh phải thử thách chính mình. 

Nhiều khi em cố ý hay vô tình
Dành cho anh những đường cầu lắt lẻo?
Anh phát hiện trên đường đời vạn nẻo
Góc sân cầu rạng rỡ đoá hồng Nhung. 

Rồi mỗi chiều ta lại đứng chung
Cây vợt càng khắc sâu nỗi nhớ
Và mành lưới không còn cách trở
Khi sân cầu hòa lẫn giọt mồ hôi. 

Anh đến sân cầu chỉ có vậy thôi
Sao chiều đến cứ nao lòng chờ đợi?
Bâng khuâng quá khi em chưa tới
Nhớ vô cùng một dấu chân quen…  


Không đề

Không đề

(tặng cho một người bạn như thể đi xa) 

Viết cho anh bằng tim óc của mình

Tiếng nói lặng thinh người trí thức

Khi cầm bút cảm thấy lòng ray rức

Muốn viết nhiều nhưng khó lắm anh ơi

Lời nói sinh ra như đứa bé chào đời

Được yêu mến nâng niu chiều chuộng

Rồi tiếng nói lặng thinh chết ngoài ý muốn

Khép lại trong hồn không một tiếng thở than

Như cây khô trên nấm mộ héo tàng

Như lá rụng giữa nắng vàng lưng gió

Lời nói của tôi buồn ghê vậy đó

Biết làm sao hiểu được anh ơi!

Lời trối trăn của một kẻ hụt hơi…
                            VQT


thư cám ơn

Thư Cám ơn

 Ngọc Hiệp
 

Nhóm bạn bè văn nghệ Vĩnh Long, thay mặt gia đình Ngọc Hiệp-Ngọc Hải – Hội viên Hội VHNT Vĩnh Long, chân thành cảm ơn bạn bè văn nghệ sĩ  Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Tây Ninh, TP.HCM và các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước có sự quan tâm, gíup đỡ gia đình anh trong cơn hoạn nạn vừa qua ( Ngọc Hiệp bị tai nạn giao thông ngày 30/10, chấn thương sọ não-liệt nửa người,lúc tỉnh, lúc mê đang nằm tại phòng cấp cứu Bệnh viện Đa Khoa Vĩnh Long).

Hoàn cảnh gia đình Ngọc Hiệp-Ngọc Hải nghèo, sinh sống chủ yếu bằng tiền nhuận bút và cài đặt, lắp ráp máy vi tính dạo.

Mong đón nhận gíup đỡ của mọi người.

Mọi sự đóng góp xin gởi về Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Long, 06 Hưng Đạo Vương TXVL, ĐT : 070822325 hoặc Ngọc Hải: 0958346753.


Thay mặt nhóm bạn bè văn nghệ Vĩnh Long

  Nhà vănTrần Thôi, Văn Quốc Thanh 


Vắng...

Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket




Vắng…
 

Sáng nay ta thức dậy
Người thương đi xa rồi
Vườn xưa chim không hót
Giọt cà phê đắng môi.
 

Chiều nay ra góc phố
Ta nâng ly một mình
Say mèm trong men rượu
Giấu nỗi buồn lặng thinh!
 


Nhớ mẹ mùa bão lũ

Nhớ mẹ mùa bão lũ

Nửa đời con sông nước Cửu Long
Bầm tím ruột khi nhớ về quê mẹ
Bên dòng phù sa con âm thầm lặng lẽ
Tóc bạc quê người - nhớ lắm mẹ ơi!


Đêm nghe gió từng cơn đổi ngọn
Nhớ vô cùng khúc ruột miền Trung
Mùa mưa lũ mẹ ngồi canh nước lớn
Nơm nớp lo cơn bão chuyễn đường.


Xin giông bão hãy ra biển cả
Thử thách mình trước đại dương xanh
Nơi mẹ ở mỏng manh vách lá
Đừng làm đau như đã vô tình.


Nơi mẹ ở thơm mùi khoai nướng
Đồng ban trưa nắng rám da người
Con trâu đứng nhai mầm cổ tích
Cỏ xanh rì thơm suốt đường đê.


Ở nơi ấy mùa đông trời rét
Chân run run mẹ lội ruộng sâu
Áo không đủ che lòng đẫm ướt
Nhớ thương bầy con đi xa.


Nơi quê mình sông Thu Bồn vẫn chảy
Con nằm đây nghe sóng Cổ Chiên
Thèm mì Quảng ngủ mơ thấy mẹ
Ánh mắt cười khói bếp thơm hơn.


Chúng con qua bảy núi năm rừng
Lòng mắc nợ lời ru của mẹ
Thương rát giọng à ơi đứt đoạn
Bất hạnh đến cùng bão lụt mỗi năm.

Con dẫu đi muôn dặm xa xăm
Vẫn khắc khoải theo từng ngày dự báo
Xin trời đất hãy nguôi cơn thịnh nộ
Để con về trả mẹ nợ tình riêng.


Chiều trên đảo

Tiếng còi tàu rời đảo chiều nay

Trên bến cảng biết ai người đưa tiễn

Có một người bồng con lưu luyến

Và một người đang dở một câu thơ. 

Tàu nhổ neo con sóng vội xô bờ  

Ta biết em cũng nhìn về phía ấy

“Phút nao lòng”. Em ơi! Đời là vậy

Sóng triều dâng xóa sạch dấu chân chim.

Ta biết em đang xuôi ngược kiếm tìm

Điều hư thực trên con tàu quẩn chật

Để gạn lọc những gì còn và mất

Chiếc bóng mờ lẩn khuất phía đảo xa.

Tàu ra đi có nghĩa lại về nhà

Xoay vần mãi chuyện đời thường cơm áo

Trong giây phút chạnh lòng khi nhớ đảo

Cái vẫy chào nhuộm tím buổi hoàng hôn.


Vùng biển lặng

truyện ngắn

            Với động tác quen thuộc, Biển cho tay vào túi quần tây rà lại khẩu colk-45 lần nữa rồi Lẩm bẩm “Đ.M tao sẽ bắn nát sọ thằng việt cộng nào vô phúc đến đây sinh sự. Hừ, giải phóng! Lũ chó chết chúng bay bảy  ngày ăn chưa hết một chén cơm độn ở đó mà đi giải phóng, giải phiếc. Mấy thằng tướng xa lông chầu rìa kia để cả miền Trung và miền Nam rơi vào tay bọn bay chứ còn Sài Gòn nầy hả? Còn lâu mới chịu đầu hàng các con a !” .    

          (Xem tiếp)


Lão Trống và cái Giá Gỗ

chuyện ngụ ngôn

  Lão Trống được người ta đặt trên cái Giá Gỗ, dường như nó tự đắc với địa vị của mình vì nó nghĩ rằng suốt đời sẽ ở mãi trên cao.

Công việc thường ngày của Lão Trống là ra lịnh cho kẻ khác chấp hành. Ở trường chỉ cần nó hét lên một tiếng thì cả trăm học sinh xếp hàng ngay ngắn. Ở đình nghe tiếng hắn “tùng tùng” thì nhiều người mọp lạy. Một hôm nó tỏ ra thương hại cho thân phận chiếc Giá Gỗ nên thỏ thẻ: 

  -Này chú Giá Gỗ, tôi ngồi trên đầu chú suốt đời, chú có buồn không?

Giá Gỗ mỉm cười:

  -Tôi không buồn, ở đâu giúp ích cho con người là quí lắm rồi.

Lão Trống ngạc nhiên:

  -Chú giúp gì, nào?

Giá Gỗ khiêm nhường:

  -Tôi nâng ông lên cao để tiếng ông được vang rộng.

Lão Trống tự hào với tiếng kêu của mình nên lên mặt: 

 -Đố chú nhờ đâu tôi kêu được?

 Dù trên vai đang vác tấm thân nặng  nề của Lão Trống, nhưng Gía Gỗ vẫn chững chạc trả lời:

  -Ông kêu được nhờ gỏi chịu đòn.

Cái Trống tưởng mình là tay gan dạ, hỏi tiếp:

  -Tại sao tiếng tôi lại vang lớn?

Giá Gỗ mỉa mai:

  -Nhờ cái bụng rỗng tuếch của ông đó thôi.

Chưa hiểu ý, Lão Trống càng huênh hoang hơn:

  - Chú thấy đó cho đến giờ nầy vẫn chưa có ai làm tôi thủng nổi.

Giá Gỗ gật đầu tán thành: 

 -Vâng. Tiếng ông lớn, giọng ông uy nghi, ông có thể hò hét đến cuối đời là nhờ cái mặt của ông được phủ bởi lớp da trâu dày.  


Thú hoang

I

Bầy thú hoang trong khu vườn chật hẹp

được nuôi dạy vỗ về bởi những ông chủ già nua

mỗi bữa ăn được ném cho vài miếng thịt đắt tiền - hoang phí

và những cái vuốt ve quen thuộc- tự hào.

II

Tuổi về chiều mệt mỏi

chủ thiếp đi cánh cửa chỉ khép hờ

rừng thênh thang gọi mời phía trước

tiếng suối reo róc rách dội về

ngào ngạt mùi hoa thơm cỏ lạ

thú tung tăng lạc giữa rừng chiều…

III

Rồi một hôm nhàn rỗi

những ông chủ đi săn

thú chợt nhận ra người mừng mừng tủi tủi…

nhưng người thì bận rộn với cung tên. 

Thôi muộn rồi con thú tội nghiệp kia ơi!

miếng thịt rừng hoang lừng thơm mùi tang tóc

thú và người ai dễ nhận ra nhau?

chiều nay

trong buổi tiệc

những ông chủ

nâng cốc

say!  


Em về bên kia sông

Em cắn trái bòn bon

Chia đôi người một nửa

Ngày xưa anh thường lựa

Dấu răng khễnh phần mình. 

Nay em về bên sông

Hai bờ chia nỗi nhớ

Chiều mưa bong bóng vỡ

Sấm sét đốt cháy lòng.

Tháng tám thôi mưa ngâu

Lũ về mùa nước ngập

Hiên nhà em mái thấp

Tiếng bìm bịp mênh mang.

Tháng chín bên song thưa

Bạc đầu anh tóc rối

Trái bòn bon vô tội

Đã nát tự bao giờ. 

Còn đâu con nhện hoang

Chiều buồn giăng sợi nhớ

Lá vàng bay vướng nhợ

Dòng nước cuốn xa rồi.

Em về bên kia sông

Có hay dòng sông lở

Hai bờ sâu nỗi nhớ

Biết tìm em phương nào? 


hoàng hôn

Hoàng hôn

ảnh: VQT


Bánh xe và con Ốc

 truyện ngụ ngôn 

        Bánh Xe được người ta cho ưu tiên ráp vào phiá trước, thế mà nó vẫn chưa bằng lòng, nhiều lúc nó cảm thấy bực mình vì suốt đời bị ràng buộc bởi những con Ốc nhỏ bé. Một hôm nó khinh khỉnh nhìn con Ốc bên cạnh rồi lên mặt :

-Nầy chú Ốc, chú biết không, tôi có một khả năng tuyệt nhất trên  đời, chỉ  cần vài giờ tôi có thể đưa chú lên đồi xuống dốc hay vượt xa ngàn dặm còn chú là vật tầm thường muốn đi đây đó phải bám vào  thân tôi?

Con Ốc ung dung trả lời :

-Ông ơi! Ông lớn có việc lớn, tôi nhỏ có việc nhỏ mỗi chúng ta đều có việc riêng. Tôi luôn đứng cạnh ông vì tôi có nhiệm vụ giúp ông đứng vững

Bánh xe mỉa mai :

-Giúp tôi ư? Với tấm thân bé bỏng kia thì chú làm nên việc gì ?
Con Ốc hỏi lại :

-Ông nghĩ gì khi có tôi đứng cạnh ông ?

    Bánh Xe bỉu môi :

-Tôi cảm thấy nặng nề, nếu không có chú tôi có thể vượt xa hơn nữa.

    Thời gian qua đi, Bánh Xe không hề để ý đến những con Ốc sét dần vì dầm mưa dãi nắng. Nó mãi mê với những vòng quay kiêu  hãnh của mình, nó điên cuồng lao đầu vào đèo cao dốc đứng. Rồi một hôm, nó cố gắng hết mình để ngoi lên con dốc cuối cùng. Nhưng, than ôi! Giữa chốn hoang dã của núi  rừng bỗng vang lên một tiếng “rầm” dữ dội. Xe mất thăng bằng, nó tách ra khỏi sườn đâm sâu xuống vực thẳm.

    Sau cảnh hãi hùng, Bánh Xe quay nhìn lại. Phải rồi. Suốt cuộc hành trình nó đã đánh rơi những con Ốc nhỏ bé.

                                                                                                                                                                  VQT


Trái tim đảo ngược

Trái tim đảo ngược                                 

   Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket                                                      

Đêm nay say đứng trước gương soi

Mảnh kiếng vỡ làm ngực anh rách toạc

Anh thấy trái tim mình đảo ngược thành ngọn lửa

Cứ bập bùng cháy bỏng yêu thương. 

Không hiểu cớ gì anh lại uống nhiều hơn

Dốc cùng kiệt đến bình khô cạn rượu

Mượn men đốt cái tế bào ung bướu

Mầm tương tư đày đoạ một kiếp người.

Ừ mai này anh sẽ tập quên

Quên để dối lòng khi thương nhớ.

Để soi gương không còn bỡ ngỡ

Khi thấy trái tim mình đảo ngược như ngọn lửa em ơi!

VL 6/10/05 


Đọc thơ Vĩnh Long trong Tuyển tập 20 năm

 Thật là quá muộn bây giờ tôi mới đặt bút ghi lại cảm nhận của minh từ những dòng thơ trong Tuyển tập “Văn thơ nhạc Vĩnh long 20 năm” khi tập sách đã ra  khá lâu rồi.

Lật qua các trang thơ, tôi tự hỏi không lẽ hai mươi năm mà thơ Vĩnh Long được chọn lọc từng này ư? Hỏi ra mới biết đây là phần góp nhặt rất nhỏ trong kho tàng vô tận của những người làm thơ viết về Vĩnh Long.  Bởi vì kinh phí hạn hẹp nên Sở Văn hóa Thông tin và Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Long không thể đáp ứng lòng mong mỏi của tác giả cũng như những người yêu thích thơ.

 (Xem tiếp)